Tổng hợp dàn ý và các bài văn mẫu Cảm nhận về tình cảm sâu nặng và cao đẹp mà ông Sáu dành cho con trong đoạn trích Chiếc lược ngà ngắn gọn, hay nhất, giúp các bạn học tốt môn Ngữ văn.
a. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Vấn đề nghị luận: Tình cha con sâu nặng, cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh được thể hiện qua nhân vật ông Sáu.
b. Thân bài
* Giới thiệu về ông Sáu:
- Là một người nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước, từng tham gia kháng chiến chông Pháp nhưng ông không tập kết ra Bắc mà ở lại đấu tranh, gây dựng lực lượng, tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến chông Mĩ.
- Ông đã chiến đấu và hi sinh vì Tổ quốc, là một người lính anh hùng nhưng nhà văn không tập trung khắc họa con người ông ở khía cạnh đó mà đi vào đời sống riêng của ông để viết về tình phụ tử.
* Tình cảm ông Sáu dành cho con:
Nỗi khao khát gặp lại con:
- Không chờ cho xuồng cập bến, nhảy thót lên bờ…
- Nôn nóng được gặp con khiến vết thẹo đỏ ửng lên, giần giật, giọng run run… ba đây con…
- Bé Thu không nhận cha: buồn bã, hụt hẫng, thất vọng,… “anh đứng sững lại đó…”
Trong những ngày nghỉ phép:
- Ông không đi xa, chỉ ở nhà, tìm cách gần gũi con “Anh quay lại… cười vậy thôi”
- Yêu thương con, chăm sóc con “gắp trứng cá”…..-> đánh con => ân hận.
- Giờ phút chia tay: không dám lại gần, chỉ nhìn từ xa bằng ánh mắt trìu mến, buồn rầu. Bất ngờ nghê tiếng gọi “ba”: ông xúc động, nghẹn ngào “một tay ôm con, một tay lấy khen lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con=> Giọt nước mắt hạnh phúc, sung sướng vì ông cảm nhận được tình ruột thịt từ con mình.
Khi trở lại chiến trường:
- Mang theo nỗi nhớ con, nỗi day dứt ân hận vì đánh con.
- Mang theo lời hẹn ước với con gái: “ Ba về… mua cây lược cho con nghe ba!” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà tặng con.
- Khi kiếm được một khúc ngà “ mặt anh hớn hở… được quà”
- Dành hết tâm trí vào việc làm cây lược “thận trọng..thơ bạc”=> đã biến người chiến sĩ thành 1 nghệ nhân- nghệ nhân chỉ sáng tạo một tác phẩm duy nhất trong đời.
- Kì công khắc hàng chữ trên sống lưng lược “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”=> chứa đựng bao yêu thương, trìu mến ông dành cho con gái -> kết tụ tình phụ tử.
- Chiếc lược còn làm dịu đi bao nỗi ân hận và chứa đựng bao tình cảm yêu mến “chưa chải được mái tóc…tâm trạng anh”=> trở thành vật thiêng, an ủi, nuôi dưỡng tình cha con và sức mạnh chiến đấu.
- Những lúc nhớ con, ông lấy cây lược ra ngắm , mài lên tóc cho thêm bóng, thêm mượt.
- Trước lúc hi sinh, chuyển nó cho người bạn như một cử chỉ chuyển giao sự sống, một sự ủy thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử “chỉ có tình cha con là không thể chết được”.
=> Tình cảm của ông Sáu thật sâu nặng, tha thiết. Tình cảm ấy bất diệt trước sự hủy diệt, tàn khốc của chiến tranh.
* Đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật ông Sáu:
- Tác giả lựa chọn ngôi kể thứ nhất nhưng đặt vào nhân vật bác Ba - người đồng đội của ông Sáu. Vì thế câu chuyện được tái hiện một cách chân thực, khách quan hơn.
- Đặt nhân vật vào tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên, hợp lí.
- Miêu tả tâm lí, tình cảm nhân vật sâu sắc.
- Sáng tạo hình ảnh chiếc lược ngà mang nhiều ý nghĩa: CLN : tình người, tình đồng đội, tình cha con
c. Kết bài
- Nhân vật ông Sáu đã góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng chủ đề của truyện: khẳng định và ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng. Đó là tình cảm cao đẹp, sâu nặng, cảm động trong hoàn cảnh eo le của chiến tranh.
- Liên hệ: Thấm thía những mất mát không gì bù đắp của con người Việt Nam trong chiến tranh, trân trọng những tình cảm cao đẹp trong tâm hồn họ.
“Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn hay viết về đề tài tình phụ tử. Đọc tác phẩm, điều khiến người đọc cảm động nhất chính là tình cảm mà cha con ông Sáu và bé Thu dành cho nhau. Câu chuyện về tình cảm gia đình thiêng liêng, sâu sắc trong kháng chiến đã đọng lại trong lòng người những suy nghĩ những bài học bổ ích. Tác phẩm ra đời năm 1966, lấy bối cảnh là cuộc kháng chiến chống Mĩ của đồng bào Nam Bộ. Chính trong hoàn cảnh bom rơi, đạn nổ, kẻ thù không chỉ chia lìa đất nước mà còn chia lìa từng gia đình ấy, tình cảm gia đình lại được thể hiện đậm nét, cảm động hơn bao giờ hết.
Ông Sáu khi đi kháng chiến có một đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuổi. Trong những năm tháng kháng chiến, vì cô bé còn nhỏ nên đi thăm chồng, vợ của ông không mang theo con. Bởi vậy, ông chỉ được nhìn con qua những tấm ảnh nhỏ mà thôi. Và giờ đây, khi trở về thì tình cha con ấy lại trỗi dậy trong lòng, ông cảm thấy nôn nao. Ngay lập tức, khi xuống thuyền, thấy một đứa bé chừng bảy, tám tuổi, tóc ngang vai thì ông Sáu biết ngay đó là con mình. Không chờ xuồng cập bến, ông đã nhún chân nhảy thót lên bờ, vội vàng bước những bước dài rồi kêu: "Thu! Con!". Điều đó thể hiện một tình cảm của người cha một cách tự nhiên, quá xúc động. Dường như chính lúc này đây, trái tim của người cha tội nghiệp reo lên đầy sung sướng khi sau tám năm trời mới được nhìn thấy mặt con và dường như ông cũng mong sự đáp lại tình cảm của con. Nhưng con bé lại đầy ngơ ngác, lạ lùng, không biết đó là ai. Còn ông Sáu thì vẫn đầy xúc động miệng nói không thành lời, giọng lặp bặp: "Ba đây con"! Lúc đó chính là lúc cái tình của người cha lên đến đỉnh điểm và không thể toát ra bằng lời vì ông đã quá xúc động. Việc bé Thu sợ hãi chạy ào đi như một gáo nước lạnh dội mạnh vào trái tim đang nóng bỏng của ông Sáu. Ông đứng sững lại đầy sững sờ, thảng thốt.
Những ngày sau đó, ông Sáu vẫn cố gắng để con nhận ra mình là cha. Cả ngày ông chẳng đi đâu xa, suốt ngày ở bên con, săn sóc, vỗ về con. Song càng vỗ về bao nhiêu con bé lại càng đẩy ông ra bấy nhiêu. Ông chỉ mong có một điều là được gọi mình một tiếng "ba". Chỉ một tiếng "ba" mà thôi! Nhưng chẳng có điều gì khác ở con gái ông ngoài sự thờ ơ, lạnh lùng thậm chí thù ghét. Những hành động của ông Sáu giúp đỡ con hay vỗ về nó đều bị con bé phản ứng lại. Chỉ có tình cha sâu nặng mới giúp ông kiên trì vượt qua điều đó. Đến một bữa cơm, khi ông gắp cái trứng cá to, vàng bỏ vào bát nó thì bất thần con bé hất ra, cơm văng tung toé và không kịp suy nghĩ gì ông đã đánh một cái vào mông nó. Ông Sáu hẳn đã vô cùng ân hận vì giây phút nóng nảy đó của mình.
Trong ba ngày nghỉ ngắn ngủi, ông đã ở bên con nhưng con không nhận. Giờ đây ngày chia tay bà con làng xóm ông định mang theo nỗi buồn đó. Nhưng trong lúc không ai ngờ đến đó, một tiếng kêu đã xé lòng ông: "Ba... a...a... ba". Tiếng "Ba" đó là sự dồn nén trong Thu tám năm nay và bây giờ nó vỡ tung ra từ ngay trong sâu thẳm đáy lòng con bé. Tiếng "Ba" với nó là điều khát khao hơn mọi đứa trẻ khác vì ngay từ nhỏ nó đã không có tình yêu thương của cha. Giờ đây tiếng "Ba" vang lên đầy tự nhiên, ngỡ ngàng trong giây phút cuối cha con chia tay. Và bây giờ nó muốn có ba, nó bật khóc vì hạnh phúc, nó hôn tóc, hôn cổ và hôn với vết theo dài trên má của ba nó nữa. Hoá ra, lí do nó không nhận ba là do vết thẹo oan nghiệt đó - vết thẹo do kẻ thù của gia đình đó, của đất nước đất nước đau thương này gây ra. Nhưng vừa nhận ra thì cũng là lúc phải chia tay. Sung sướng và có lẫn sự xúc động ông ôm con và tạm biệt nhưng con bé không muốn ba phải đi. Cho đến khi ông hứa làm cho nó một chiếc lược thì nó mới để cho ba nó đi.
Ở chiến trường tuy chiến tranh đầy ác liệt nhưng ông vẫn cố công làm bằng được chiếc lược ngà. Trong khi làm, ông Sáu cảm thấy vui vui như đứa trẻ nhận được quà. Ông cố gắng làm tỉ mỉ, thận trọng cố công như người thợ bạc. Khi chiếc lược được làm xong ông cảm thấy sung sướng vì mình như đã thực hiện được phần nào lời hứa. Sau đó ông lại khắc trên sống lưng chiếc lược "Yêu nhớ tặng con, Thu của ba”. Hàng đêm nhớ con ông lại đem lược ra ngắm chải lên đầu cho lược thêm bóng, mượt... Trong giờ phút cuối cùng, tuy không đủ sức trăng trối, nhưng tình cha con vẫn sống và trỗi dậy tròng con người ông. Ông đưa chiếc lược cho Ba - một người đồng đội thân thiết và nhìn Ba hồi lâu như trăng trối rằng: "Hãy đưa chiếc lược này đến cho Thu". Cái nhìn đó có thể nói rằng đó là cái nhìn của sự nhờ cậy, tin cậy, gửi gắm cả tâm hồn ông qua đó. Tình cha con đầy thiêng liêng, cao quý trỗi dậy ngay cả khi con người ta đang đối mặt giữa sự sống và cái chết. Khi Ba nhận lời thì ông mới nhắm mắt.
Sau này, bác Ba đã gặp Thu - giờ đây là cô gái giao liên dũng cảm và bác đã trao lại kỉ vật đó cho Thu.
Tình cảm ông Sáu dành cho con sâu nặng bao nhiêu, tình cảm Thu dành cho ba cũng nồng nàn bỏng cháy bấy nhiêu. Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Bức ảnh cha cô mà cô khắc ghi bấy lâu trong tâm khảm không có vết thẹo trên mặt như ông Sáu - người cứ nhận mình là cha bé! Và vì thế, Thu càng phản đối quyết liệt con người ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì. ai khác, ngay cả khi đó là người được tất cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.
Đến lượt mình, Thu cũng đáp lại tình cảm của ba một cách cảm động. Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba "Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ cùa con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa." Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sâu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó - không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước - nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba., a... a…ba!". Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.". Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi "ba" lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.
Sau này, thấu hiểu sâu sắc nguyên nhân gây ra vết thẹo trên măt cha, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.
Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Đọc thiên truyện, người đọc hẳn đã có lần rơi lệ vì cảm động. Và còn vì thấy trong đó thấp thoáng đâu đây bóng dáng bản thân, của người cha thân yêu của mình nữa. Tình phụ tử đó chính là một trong những thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong cõi đời này. Và bởi thế, đọc “Chiếc lược ngà” để ta trân trọng hơn những người thân yêu ruột thịt quanh mình, trân trọng hơn những tình cảm sâu sắc ta đang được nhận. Và hơn hết, đọc thiên truyện ngắn này, ta biết yêu thương, sẻ chia và sống xứng đáng với những đấng sinh thành của bản thân.
Không chỉ gợi những tình cảm trong sáng, cao quý, “Chiếc lược ngà” còn mang đến cho người đọc những bài học nhân sinh đầy nhân ái. Và vì thế, đây thực sự là một thiên truyện hay trong hành trang của những người Việt trẻ!
Nguyễn Quang Sáng là một trong những nhà văn nam bộ, ông viết rất nhiều về cuộc sống, con người và mảnh đất nam bộ. Ông từng là bộ đội thời đánh Pháp, sau năm 1954 ra Bắc tập kết mới bắt đầu viết văn. Trong những năm đánh Mĩ ông sống và hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, trong các tác phẩm của ông luôn mang hơi thở, nhịp sống của người dân Nam Bộ. Trong đó tác phẩm Chiếc lược ngà là một trong những tác phẩm viết về những con người nam bộ trong những năm kháng chiến chống Mỹ sôi sục. Đặc biệt là tình cảm của ông Sáu dành cho bé Thu, đứa con mà nhiều năm sau ông mới gặp.
Trong những năm chiến đấu, anh khao khát được gặp con nhưng vì hoàn cảnh nên không thể. Dù thời gian ấy, chị Sáu cũng có lên thăm anh mấy lần nhưng lần nào cũng không dắt bé Thu đi cùng vì rừng thiêng nước độc, đường xá khó khăn. Vì vậy anh càng thương và nhớ con hơn. Nỗi nhớ dai dẳng, da diết đến nỗi, khi trở về quê lần đầu gặp con anh vô cùng xúc động.
Tình cảm trong anh dạt dào tới nỗi xuồng chưa kịp cập bến anh đã vội vàng nhảy vào bờ với con “ Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ 8 tuổi tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuống tạt ra”.
Có thể nói nỗi nhớ phải nhiều thế nào, nôn nóng thế nào mà mới chỉ thấy bóng con anh đã nhận ra con. Có lẽ ở chiến trường, anh đã luôn hồi tưởng đến con, nhớ đến con và có thể hình dung ra bé Thu khi lớn trông thế nào, vậy nên chỉ thoáng thấy con nhận ra con ngay.
Khi thấy con, anh vội vàng dừng lại và gọi, Thu, con. Có lẽ nỗi nhớ dâng trào nên anh không kiềm lòng được. Nhưng nỗi mong mỏi của anh lại không được đáp lại,. Anh nghĩ rằng, bé thu sẽ chạy vào lòng anh, sẽ ôm cổ anh, anh sẽ bước khom người tới đưa tay đón chờ con. Nhưng, khi nghe gọi, bé thu chỉ giật mình, tròn mắt nhìn ngơ ngác lạ lùng. Bé thu không hề nhớ ra anh.
Còn anh, anh không thể ghìm xúc động, mỗi lần xúc động vết sẹo dài trên má lai đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Anh đưa tay về phía con bé nhưng con bé chỉ phản ứng lại bằng sự sợ hãi, mặt tái đi,rồi vụt chạy gọi mẹ.
Tình cảnh này khiến anh hụt hẫng vô cùng .Anh đã mong mỏi bao nhiêu để gặp con nhưng giờ đây đứa bé lại không đón nhận tình cảm của anh “anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.
Nhưng nỗi đau cũng vội qua mau, tình thương của anh dành cho con nhiều đến nỗi, ở nhà chỉ có 3 ngày, cả 3 ngày anh đề ở nhà với con. Với tâm lí chung của một người đi lính, nhiều năm mới trở về nhà sẽ đi thăm bà con, người quen mỗi nhà một lúc. Nhưng anh Sáu thì khác, tình yêu anh quá lớn đến nỗi anh không đi đâu, anh chỉ ở nhà chơi với con “Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vồ về con”. Ấy vậy mà con bé càng đẩy anh ra xa, chẳng bao giờ chiu gọi anh một tiếng ba.
Ba ngày ở nhà với con, anh đều đối mặt với sự hờ hững của con, anh chỉ lắc đầu và cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười thôi. Cứ như vậy, cho đến lúc anh đi, con bé chỉ đứng nhìn anh. Anh cũng không dám đến bế nó, chỉ sợ nó lại hất anh ra. Nhưng anh nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Có lẽ tình yêu của cha lớn đến nỗi không muốn làm con bé sợ, anh muốn nó luôn nhớ về anh với hình ảnh dịu dàng chứ không phải là sợ hãi. Nhưng bất ngờ thay con bé bỗng gọi một tiếng ba, và ôm cổ ba khóc. Có lẽ đây là tiếng kêu mà anh mong mỏi nhất, mong mỏi từ lâu rồi chứ không phải chỉ 3 ngày ở nhà. Anh khao khát nghe bé thu gọi ba, và giờ đây khi bé thu gọi anh xúc động đến nỗi chảy nước mắt, nhưng lại không muốn con thấy mình khóc “một tay anh om con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”.
Một người đàn ông đã từng vào sinh ra tử, lăn lộn nơi chiến trường máu lửa còn không sợ, không rơi nước mắt. Vậy mà trước tình cảm của đứa con nhỏ bé nước mắt lại chảy cho thấy tình cảm của anh sâu nặng thế nào. Có lẽ đó là tình cảm anh khao khát từ lâu. Người được làm cha mà bây giờ mới được nghe tiếng gọi, đó là tiếng gọi của tình thân 7 năm anh ở chiến trường mong đợi.
Khi trở về chiến trường, anh sáu lúc nào cũng nhớ đến con “những đêm rừng, nằm trên võng, mắt chỉ thấy tấm ni long nóc, lúc nhớ con anh cứ hận sao mình lại đánh con. Nỗi khổ tâm ấy cứ dày vò anh”. Đó là lần anh đánh con vì con bướng trong bữa ăn, chỉ một lần đó mà anh day dứt mãi cho thấy anh thương con thế nào.
Và cho đến khi anh đã cầm được khúc ngà anh sung sướng vô cùng, vì lời hứa với con đã thành hiện thực, anh sẽ mài khúc ngà ấy thánh chiếc lược nhỏ xinh để dành tặng con gái “ những lúc rảnh rỗi anh cu ưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc” . Sự tỉ mỉ của anh chính là tình yêu dành cho con gái, anh muốn dành mọi điều tốt đẹp nhất đối với con. Anh cũng khắc lên đó dòng chữ “yêu nhớ tặng Thu con của ba”.
Cây lược ngà đã phần nào gỡ rối được phần nào cho tâm trạng anh “những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra nắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt” Có cây lược, anh còn mong gặp lại con hơn trước, anh muốn được nhìn thấy niềm hạnh phúc của con.
Nhưng nỗi mong nhớ được gặp con không bao giờ có thể được nữa. Trong một trận đánh với Mĩ – ngụy anh đã hi sinh. Trong giờ phút cuối cùng ấy, anh lại chỉ nhớ đến con, tình cha con không bao giờ chết được “anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi”. Trong suốt những ngày tháng ở chiến trường cho đến lúc hi sinh, cây lược lúc nào cũng ở trong người anh, anh coi nó như báu vật. Báu vật ấy chính là tình cảm cha con thiêng liêng không bao giờ mất dù đạn bom, máu đổ.
Chỉ khi nghe lời hứa sẽ mang về trao tận tay cho cháu chiếc lược, anh mới nhắm mắt. Ngay cả đến lúc hi sinh, anh vẫn dành mọi tình cảm cho con. Có thể nói tình yêu anh dành cho bé Thu lớn hơn cả cái chết. Đối với anh, thất hứa với con mới là điều anh đau đáu nhất, còn cái chết chỉ nhẹ tựa lông hồng.
Tình cảm cha con là tình phụ tử thiêng liêng và bất tử. Tình cảm của ông Sáu dành cho con chính là tình cảm bất tử ấy. Qua đây ta không chỉ thấy trân trọng tấm lòng ông dành cho con mà còn tố cáo chiến tranh phi nghĩa, chính nó đã chia rẽ tình cảm gia đình tình cảm vợ chồng, cha con. Đồng thời ta cũng thấy được tấm lòng của nhà văn dành cho nhân vật mình, luôn dành cho họ tình cảm và sự yêu thương trân trọng nhất.
Ông Sáu là một người cha hy sinh cả cuộc đời để gìn giữ tình cha con bất diệt. Sau tám năm xa nhà đi kháng chiến, khi bé Thu lên tám tuổi ông Sáu mới có dịp về phép thăm nhà, gặp mặt đứa con gái đầu lòng mà ông vô cùng thương nhớ. Khi cất tiếng gọi con cùng với điệu bộ “vừa bước, vừa khom người đưa tay chờ đón con”, có lẽ ông rất vui và xúc động, hạnh phúc, tin rằng đứa con sẽ đến với mình. Nhưng bé Thu đã từ chối, chạy và kêu thét lên gọi má. Ông Sáu vô cùng buồn bã, thất vọng, đau đớn.
Trong hai ngày phép ngắn ngủi, ông Sáu không đi đâu chỉ quanh quẩn ở nhà với con, chăm sóc con nhưng bé Thu không nhận cha khiến ông vô cùng buồn,… nhưng ông sẵn lòng tha thứ cho con. Tình yêu thương của người cha dành cho con trở nên bất lực khi ông Sáu đánh con bé một cái vào mông vì nó đã hất miếng trứng cá mà ông gắp ra khỏi bát cơm làm cơm văng tung toé.
Cho đến lúc chia tay, ông nhìn con trìu mến lẫn buồn rầu “đôi mắt của người cha giàu tình thương yêu, độ lượng, có phần thất vọng, sợ con không đón nhận tình cảm của mình. Trước cử chỉ của bé Thu, “ông Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”. Đó là giọt nước mắt sung sướng, hạnh phúc của một người cha cảm nhận được tình ruột thịt từ con mình.
Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện, khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ. Trước hết là nỗi nhớ thương xen lẫn sự day dứt, ân hận ám ảnh ông suốt nhiều ngày vì ông đã đánh con khi nóng giận. Ông Sáu đúng là một người cha hiền lành, nhân hậu, biết nâng niu tình cảm cha con. Rồi lời dặn của đứa con: “Ba về, ba mua cho con một cây lược ngà nghe ba!” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con. Chứng tỏ ông rất chiều con và luôn giữ lời hứa với con. Đó là biểu hiện tình cảm trong sáng và sâu nặng của người cha.
Ở chiến khu, kiếm được khúc ngà, anh vui sướng như đứa trẻ được quà. Để rồi sau đó, ông để hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược, cưa răng, chuốt bóng, khắc chữ… tỉ mỉ, cần mẫn, công phu. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo một tác phẩm duy nhất trong cuộc đời. Cho nên nó không chỉ là chiếc lược xinh xắn và quý giá mà đó là chiếc lược kết tụ tất cả tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm, sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu! Chiếc lược ngà thiêng liêng đã làm dịu nỗi ân hận và ánh lên niềm hy vọng khắc khoải sẽ có ngày anh Sáu được gặp lại con, trao tận tay nó món quà kỷ niệm này.
Nhưng tình cảm thật đáng thương, anh không kịp đưa cây lược ngà đến tận tay cho con, người cha ấy đã hy sinh trong một trận càn. Trước khi vĩnh biệt con, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, đã chuyển nó cho người bạn như một cử chỉ chuyển giao sự sống, một sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân: ước nguyện của tình phụ tử. Điều đó đúng như ông Ba nói: “chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc.
Ông Sáu quả là một người cha chịu nhiều thiệt thòi nhưng vô cùng độ lượng và tận tụy vì tình yêu thương con. Một người cha để bé Thu suốt đời yêu quý và tự hào.
>>> Xem thêm: Cảm nhận về tình cảm của nhân vật ông Sáu dành cho con trong truyện Chiếc lược ngà
---/---
Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Suy nghĩ về tình cảm sâu nặng và cao đẹp mà ông Sáu dành cho con trong đoạn trích Chiếc lược ngà tiêu biểu được Top lời giải tuyển chọn từ những bài viết hay, xuất sắc nhất. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!