Cấu tứ và hình ảnh là linh hồn của bài thơ. Nó thể hiện suy nghĩ và cảm xúc của tác giả, tạo nên sự liên kết giữa các ý, khiến cho bài thơ trở nên thống nhất và cân đối. Hãy cùng Toploigiai tìm hiểu sâu hơn về cấu tứ và hình ảnh trong bài thơ Nhớ đồng.
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Khái quát cấu tứ và hình ảnh trong bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu.
2. Thân bài
2.1 Khái quát về cấu tứ, hình ảnh trong thơ trữ tình
*Cấu tứ
- Cấu tứ là linh hồn của tác phẩm, cung cấp một thế đứng, thế nhìn, cách cảm nhận để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
- Cấu tứ là mô hình nghệ thuật của tác phẩm, là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nó.
- Xét như một thành quả sáng tạo, là sự cắt nghĩa, lí giải khái quát hiện tượng đời sống bằng một hình tượng tổng quát có sức chi phối toàn bộ cảm thụ, suy tưởng và miêu tả nghệ thuật trong tác phẩm.
- Để xác định cấu tứ trong bài thơ, chúng ta có thể dựa vào nhan đề, kết cấu và ngôn từ của tác phẩm.
*Hình ảnh thơ: những hình ảnh được tác giả gửi gắm vào tác phẩm từ đó bộc lộ những suy tư cảm xúc sâu lắng, chân thực nhất giúp người đọc dễ dàng cảm nhận, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
2.2 Phân tích bài thơ để thấy được cấu tứ của bài thơ Nhớ đồng
* Nhan đề “Nhớ đồng”
• Những khía cạnh phong phú của nội dung, cảm xúc được thể hiện trong bài thơ:
• Nhớ sắc màu, hương vị, cảnh quan đơn sơ mà quyến rũ của làng quê (khổ 2)
• Nhớ nhịp sống trì động, không đổi qua bao nhiêu năm tháng của làng quê (khổ 3)
• Nhớ những con người cần cù lao động và luôn nuôi hi vọng trên những luống cày (khổ 5)
• Nỗi nhớ buồn cố hữu tỏa ra từ không gian làng quê (khổ 6)
• Nhớ những người dân quê thật thà, chất phác và những dáng hình ruột thịt (khổ 8, 9)
• Nhớ những ngày đi ra từ làng quê bắt đầu dấn thân vào còn đường cách mạng và hào hứng, nhiệt huyết với lý tưởng (khổ 10, 11)
• Nhớ tất cả những gì thuộc về cuộc sống tự do bên ngoài nhà tù (12)
=> Toàn bộ cảm xúc của bài thơ đều hướng về nỗi nhớ ruộng đồng, như vậy Nhớ đồng là một nhan đề hoàn toàn phù hợp với nội dung tác phẩm.
- Từ đồng:
+ Chỉ một không gian cụ thể: là cánh đồng, bãi đồng.
+ Từ đồng còn mang nghĩa khái quát: chỉ chung làng quê với sự thống nhất giữa cảnh và người. Đồng chính là điểm tựa tinh thần, là toàn bộ cuộc sống bên ngoài nhà tù mà nhân vật trữ tình luôn hướng về.
* Bố cục:
- Phần 1 (7 khổ đầu): Nỗi nhớ thế giới bên ngoài với những cảnh, những con người đặc trưng của miền quê nghèo.
+ Tiếng hò: Tiếng hò được lặp lại nhiều lần, vang lên lẻ loi, đơn độc giữa trưa tĩnh lặng, “hiu quạnh” gợi lên nỗi buồn, sự hiu quạnh đồng điệu với tâm trạng của người tù.
- Phần 2 (6 khổ thơ còn lại): Nỗi nhớ thời gian hoạt động cách mạng và niềm khao khát tự do.
* Điệp ngữ “đâu” đóng vai trò then chốt trong việc làm nổi rõ cấu tứ độc đáo của bài thơ.
- Từ “đâu” xuất hiện 10 lần trong bài thơ thể hiện hoạt động ráo riết của kí ức nhằm làm sống dậy quá khứ, làm hiển hiện cả một không gian thân quen giờ đây đã trở thành cõi tách biệt
- Từ “đâu” được đặt ở vị trí đầu tiên của các câu thơ đóng vai trò thúc giục, khuấy động tâm trí của nhân vật trữ tình.
- Từ “đâu” góp phần quan trọng tạo nên mạch lạc và liên kết của văn bản, khiến cho việc bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình trở nên thuận lợi, đảm bảo cho bài thơ vừa có được sự phong phú của các loại hình ảnh lại vừa có được sự chặt chẽ, mạch lạc về cấu trúc, phù hợp với sự phát triển theo đúng quy luật tâm lý của mạch cảm xúc.
* Sử dụng câu hỏi tu từ:
- "Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?"; "Vãi giống tung trời những sớm mai?" => Gợi lên tâm trạng ngổn ngang của tác giả, bất giác nhớ về quê hương với những hình ảnh rất đỗi quen thuộc thân thương.
- Những câu kể cũng được đan xen hết sức tài tình. Đó là kể về hình ảnh quê hương trong tâm trí của tác giả. Là cồn đất thơm, những ô mạ xanh, những rặng tre, những xóm nhà tranh... Đề từ đó, giúp người đọc hình dung ra được quê hương trong tác giả, nó giản di, ấm no và hạnh phúc đến như thế nào.
- Cuối cùng, việc đan xen những câu cảm thán bên cạnh câu kể và câu hỏi giúp làm tăng thêm giá trị biểu cảm của bài thơ. => Nỗi nhớ đã lên đến đỉnh điểm, thốt lên thành lời của một thanh niên với tấm lòng yêu nước sôi sục được cống hiến, góp sức mình cho Tổ quốc.
2.3 Phân tích các hình ảnh tiêu biểu trong bài thơ
* Hình ảnh có tính tượng trưng:
- Hình ảnh "đường con bước vạn đời" và "xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi" => ngụ ý về cuộc sống quẩn quanh, tù túng, đơn điệu cần thay đổi.
- Hình ảnh "Lưng cong xuống luống cày", "bàn tay vãi giống tung trời những sớm mai" =>vẻ đẹp của lao động và sự mạnh mẽ, lạc quan của tầng lớp cần lao.
- “Hồn thân” ở đây có thể hiểu là những người anh hùng nông dân, những người nông dân chất phác đã hi sinh cho cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tác giả sử dụng từ “hồn thân” như một cách gọi thân thương nhằm giảm bớt sự đau buồn đối với những người ở lại.
- Hình ảnh “cánh chim buồn nhớ gió mây” gợi lên tình cảnh của tác giả. => Thể hiện khao khát được quay trở lại đó, được đi theo chân lý của mình như con chim tung cánh bay giữa bầu trời tự do với gió mây, với trời xanh.
=> Cách tác giả đan cài, phối hợp, sắp xếp các cụm hình ảnh đều hợp tình, hợp lý. Đầu tiên là những sự vật bình dị, gắn bó mật thiết với quê hương như hình ảnh rặng tre, cánh đồng, những mái nhà,… rồi đến “hồn thân” – những người dân chất phác đã ngã xuống vì độc lập dân tộc.
2.4 Giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
*Giá trị nội dung:
- Bài thơ là tiếng lòng da diết với cuộc đời, cuộc sống tự do và say mê cách mạng của nhân vật trữ tình.
- Thể hiện khát vọng tự do, tình yêu nhân dân, đất nước, yêu cuộc sống của chính mình.
*Giá trị nghệ thuật:
- Sử dụng rất thành công biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp cấu trúc.
- Giọng thơ da diết, khắc khoải, sâu lắng.
- Hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mộc mạc, đời thường.
3. Kết bài
- Tổng kết lại về cấu tứ và hình ảnh của bài thơ.
- Khẳng định tài năng và tâm huyết của nhà thơ.
Tố Hữu là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu là tiếng nói trữ tình nhiệt huyết về những vấn đề lớn của đất nước và cách mạng. Bài thơ Nhớ đồng là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của tác giả Tố Hữu. Được sáng tác trong thời gian tác giả bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ, bài thơ là tiếng lòng da diết với cuộc đời, cuộc sống tự do và say mê cách mạng của tác giả, đồng thời thể hiện khát vọng tự do, tình yêu nhân dân, đất nước, yêu cuộc sống của chính mình. Để thể hiện được điều đó nhà thơ đã sử dụng cấu tứ đặc biệt và những hình ảnh thơ rất đặc sắc.
Cấu tứ là linh hồn của tác phẩm, cung cấp một thế đứng, thế nhìn, cách cảm nhận để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Cấu tứ là mô hình nghệ thuật của tác phẩm, là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nó. Xét như một thành quả sáng tạo, là sự cắt nghĩa, lí giải khái quát hiện tượng đời sống bằng một hình tượng tổng quát có sức chi phối toàn bộ cảm thụ, suy tưởng và miêu tả nghệ thuật trong tác phẩm. Để xác định cấu tứ trong bài thơ, chúng ta có thể dựa vào nhan đề, kết cấu và ngôn từ của tác phẩm. Hình ảnh thơ là những hình ảnh được tác giả gửi gắm vào tác phẩm từ đó bộc lộ những suy tư cảm xúc sâu lắng, chân thực nhất giúp người đọc dễ dàng cảm nhận, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Bài thơ Nhớ đồng được cấu tứ theo nỗi nhớ của nhân vật trữ tình, ở đây là một người chiến sĩ cộng sản bị bắt giam. Nỗi nhớ được bộc lộ ngay từ nhan đề “Nhớ đồng” của bài thơ. Nhan đề đã thể hiện những khía cạnh phong phú của nội dung, cảm xúc được thể hiện trong bài thơ. Đó là nỗi nhớ sâu sắc. Nhân vật trữ tình nhớ sắc màu, hương vị, cảnh đơn sơ mà quyến rũ của làng quê, nhớ nhịp sống êm đềm, chậm rãi, không đổi qua bao nhiêu năm tháng của làng quê nghèo khó. Đó là nỗi nhớ về những con người cần cù lao động và luôn nuôi hi vọng trên những luống cày. Nỗi nhớ về những người dân thật thà, chất phá và những dáng hình ruột thịt. Nhân vật trữ tình cũng không thể quên được những ngày rời làng quê bắt đầu dấn thân vào con đường cách mạng, hào hứng, nhiệt huyết với lý tưởng. Chung quy lại đó là nỗi nhớ về cuộc sống tự do bên ngoài nhà tù. Từ “đồng” trong nhan đề cũng rất đặc biệt. Đó không chỉ là một không gian cụ thể như “cánh đồng” mà nó còn mang nghĩa khái quát, chỉ chung làng quê với sự thống nhất giữa cảnh và người. Đồng chính là điểm tựa tinh thần, là toàn bộ cuộc sống bên ngoài nhà tù mà nhân vật trữ tình luôn hướng về.
Bảy khổ thơ đầu là nỗi nhớ thế giới bên ngoài với những cảnh vật và hình ảnh con người đặc trưng của miền quê nghèo. Cảm hứng của bài thơ được gợi lên từ tiếng hò.
Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò.
Tiếng hò được lặp lại nhiều lần, vang lên lẻ loi, đơn độc giữa trưa tĩnh lặng, “hiu quạnh” gợi lên nỗi buồn, sự hiu quạnh đồng điệu với tâm trạng của người tù. Tiếng hò cũng gợi nỗi nhớ lại làn điệu dân ca xứ Huế mộng mơ, trữ tình. Có thể thấy rằng nỗi nhớ đồng cồn cào trong tác giả được gợi lên bởi tiếng hò tha thiết vang lên trong không gian tù ngục chật hẹp, tù túng, hiu quạnh lúc buổi trưa. Câu thơ mở đầu và cũng là ý thơ được lặp lại bốn lần “Gì sâu bằng….” Càng khẳng định nỗi nhớ da diết mãnh liệt của nhân vật trữ tình.
Đến khổ thơ thứ hai, tác giả sử dụng điệp từ “đâu” kết hợp với cấu trúc nghi vấn đã làm sâu sắc hơn nỗi day dứt tìm kiếm trở về với cuộc sống khi xưa, tìm kiếm sự yên bình nơi quê hương trong sự ngậm ngùi. Sự lặp lại đã tạo nên giọng điệu da diết, sâu lắng, mãnh liệt. Giữa bốn bức tường nơi nhà giam tăm tối, âm thanh của tiếng hò là chất xúc tác, gợi mở bao nhiêu hình ảnh thân thương của quê hương dội về từ kí ức.
Đồng quê hiện lên đậm đà trong nỗi nhớ của tác giả với những hình ảnh rất đỗi bình dị, thân thuộc. Đó là cồn thơm, ruộng tre mát, ô mạ xanh mơn mởn, nương khoai ngọt sắn bùi, chiều sương phủ bãi đồng, xóm làng và con đường thân thuộc, những mái nhà tranh,… Trong xa cách, hình ảnh, mùi vị, âm thanh, màu sức của quê hương càng trở nên gần gũi lạ thường. Nhớ cảnh thì làm sao mà không nhớ đến người. Nhân vật trữ tình nhớ những con người lao động chất phác nơi miền quê nghèo ấy. Họ là những người dân quê cần cù, chịu thương chịu khó, tính cách hiền lành, thật thà. Người nông dân với luống cày vất vả, gian nan, lưng còng theo năm tháng. Thế nhưng, ở họ vẫn toát lên một vẻ đẹp sáng ngời, phẩm chất trong sáng, tốt đẹp. Chính họ, chính những người lao động chân chất thôn quê ấy cũng là những người gieo những tia hi vọng vào tương lai.
Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi
Đâu những ruồng tre mát thở yên vui
Đâu những ô mạ xanh mơn mởn
Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?
…
Đâu những chiều sương phủ bãi đồng
Lúa mềm xao xác ở ven sông
Vẳng lên trong tiếng xe lùa nước
Một giọng hò đưa hố não nùng.
Nếu như ở những khổ thơ đầu là cảm xúc bâng khuâng nhớ những cảnh sắc thân quen, bình dị nhưng đượm buồn của quê hương thì đến sáu khổ thơ cuối là cảm xúc bâng khuâng nhớ những khuôn mặt thân quen, trong đó có hình ảnh của bản thân và niềm khao khát tự do cháy bỏng. Trước tiên là nỗi nhớ về “người mẹ già đơn chiếc”. Nỗi nhớ thương càng siết chặt thêm, nhân vật trữ tình như chìm đắm, say trong cơn nhớ không dứt. Thán từ “Chao ôi thương nhớ, chao thương nhớ” đã khắc họa nỗi nhớ da diết khôn nguôi, từng lời như đang than thở vì bất lực, chán nản trước hoàn cảnh của chính mình, không thể thoát ra để giải tỏa nỗi lòng. Nhớ đến mẹ già đơn côi, nhân vật trữ tình cũng nhớ đến cảnh ngộ của bản thân và càng khao khát được tự do. Nhớ về những ngày chưa tìm được ánh sáng của Đảng cho đến khi gặp được lý tưởng cách mạng. Nhớ nhung những ngày say mê lý tưởng, được tự do hoạt động cách mạng. Càng nhớ đến, nhân vật trữ tình càng cảm thấy cô đơn với hiện thực bị giam cầm.
Điệp ngữ “đâu” đóng vai trò quan trọng trong việc làm nổi bật cấu tứ độc đáo của bài thơ. Từ “đâu” xuất hiện 10 lần trong bài thơ thể hiện hoạt động ráo riết của kí ức nhằm làm sống dậy quá khứ, làm hiển hiện cả một không gian thân quen giờ đây đã trở thành cõi tách biệt. Từ “đâu” được đặt ở vị trí đầu tiên của các câu thơ đóng vai trò thúc giục, khuấy động tâm trí của nhân vật trữ tình. Nó góp phần tạo cho bài thơ một nhịp điệu đầy biến hóa: khi hối thúc gấp gáp, khi chậm rãi, lắng sâu, thể hiện được đặc điểm tâm tư đầy xáo động của người tù trẻ tuổi đang khao khát được tự do, khao khát hoạt động. Từ “đâu” góp phần quan trọng tạo nên mạch lạc và liên kết của văn bản, khiến cho việc bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình trở nên thuận lợi, đảm bảo cho bài thơ vừa có được sự phong phú của các loại hình ảnh lại vừa có được sự chặt chẽ, mạch lạc về cấu trúc, phù hợp với sự phát triển theo đúng quy luật tâm lý của mạch cảm xúc.
Bên cạnh đó, việc sử dụng luân phiên những câu hỏi như "Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?"; "Vãi giống tung trời những sớm mai?" gợi lên tâm trạng ngổn ngang của tác giả, bất giác nhớ về quê hương với những hình ảnh rất đỗi quen thuộc thân thương. Ấn sâu trong đó ta thấy được sự mong ngóng về một ngày được gặp lại những khung cảnh ấy, để thỏa mãn được nỗi nhớ, tâm tư của tác giả. Những câu kể cũng được đan xen hết sức tài tình. Đó là kể về hình ảnh quê hương trong tâm trí của tác giả. Là cồn đất thơm, những ô mạ xanh, những rặng tre, những xóm nhà tranh... Đề từ đó, giúp người đọc hình dung ra được quê hương trong tác giả, nó giản di, ấm no và hạnh phúc đến như thế nào. Cuối cùng, việc đan xen những câu cảm thán bên cạnh câu kể và câu hỏi giúp làm tăng thêm giá trị biểu cảm của bài thơ. Bởi đó là những câu bộc lộ cảm xúc đang dâng trào của tác giả, là sự thể hiện cho một nỗi nhớ đã lên đến đỉnh điểm, thốt lên thành lời của một thanh niên với tấm lòng yêu nước sôi sục được cống hiến, góp sức mình cho Tổ quốc.
Đó là cấu tứ của thơ, bên cạnh đó những hình ảnh được sử dụng bài thơ cũng giúp tác giả thể hiện được tâm tư, tình cảm của mình. Đó là những hình ảnh có tính tượng trưng. Hình ảnh “đường cong bước vạn đời” và xóm nhà tranh thấp im hơi”, hai hình ảnh này bổ sung cho nhau tạo nên một hình tượng khái quát, không chỉ thể hiện con đường, mái nhà cụ thể mà còn ngụ ý về cuộc sống quẩn quanh, tù túng, đơn điệu cần thay đổi.
Hay hình ảnh “Lưng cong xuống luống cày”, “bàn tay vãi giống tung trời những sớm mai” kết hợp với nhau khắc họa vẻ đẹp của lao động và sự mạnh mẽ, lạc quan của tầng lớp cần lao. Hình ảnh “Hồn thân” cũng hết sức độc đáo, có thể hiểu là những người anh hùng nông dân, những người nông dân chất phác đã hi sinh cho cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đó là những con người quả cảm, hiền hậu, họ đã ra đi nhưng “hồn” của họ vẫn còn mãi, trong tâm trí của những người ở lại. Tác giả sử dụng từ “hồn thân” như một cách gọi thân thương nhằm giảm bớt sự đau buồn đối với những người ở lại.
Đặc biệt phải nói đến hình ảnh “cánh chim” cuối bài thơ. Hình ảnh “cánh chim buồn nhớ gió mây” gợi lên tình cảnh của tác giả. Như một con chim bị nhốt trong lồng, tác giả đang mong muốn được tự do, nhớ đến những ngày tháng tự do trước kia của mình, khao khát được quay trở lại đó, được đi theo chân lý của mình như con chim tung cánh bay giữa bầu trời tự do với gió mây, với trời xanh. Qua đó, ta thấy nỗi nhớ trong tác giả đã chuyển thành niềm khát khao được tự do.
Hệ thống hình ảnh trong bài thơ biểu đạt nội dung về nỗi nhớ quê hương da diết. Đó là nỗi nhớ bình dị thể hiện qua những hình ảnh rất đỗi quen thuộc mà ta có thể dễ dàng bắt gặp tại bất kỳ một vùng nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ. Đây cũng là tình cảm của tác giả đối với quê hương mình, là sự trân trọng của một con người xa quê tự ý thức được về quê hương và nghĩa vụ của mình phải bảo vệ những thứ bình dị, tuyệt đẹp ấy.
Cách tác giả đan cài, phối hợp, sắp xếp các cụm hình ảnh đều hợp tình, hợp lý. Đầu tiên là những sự vật bình dị, gắn bó mật thiết với quê hương như hình ảnh rặng tre, cánh đồng, những mái nhà,… rồi đến “hồn thân” – những người dân chất phác đã ngã xuống vì độc lập dân tộc… Tất cả đều đi theo một trình tự hợp lý, phù hợp với tâm tư, tình cảm lúc bấy giờ của tác giả khi đang bị giam giữ, nhớ về quê hương, về con đường cách mạng mà buồn da diết bởi tình cảnh bị giam, không thể cùng với nhân dân, với anh em đồng chí tiếp tục sự nghiệp cách mạng.
Bài thơ là tiếng lòng da diết với cuộc đời, cuộc sống tự do và say mê cách mạng của nhân vật trữ tình. Thể hiện khát vọng tự do, tình yêu nhân dân, đất nước, yêu cuộc sống của chính mình. Tác giả sử dụng rất thành công biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp cấu trúc. Giọng thơ da diết, khắc khoải, sâu lắng. Hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mộc mạc, đời thường.
Qua cấu tư độc đáo và những hình ảnh được chọn lọc một cách kỹ lưỡng nhưng vẫn mang đến sự gần gũi, thân thương, tác phẩm Nhớ đồng đã diễn tả thành công tâm trạng của người tù cộng sản, đó là những cảm xúc hết sức chân thực, những nỗi nhớ thương cứ lặp đi lặp lại thể hiện khao khát tự do cháy bỏng cùng với đó là tình yêu quê hương sâu sắc của người thanh niên yêu nước đang sục sôi nhiệt huyết. Bài thơ không chỉ thể hiện tài năng của Tố Hữu mà còn thể hiện tấm lòng sâu nặng của nhà thơ dành cho cách mạng, cho đất nước, nhân dân.